DUNG DỊCH NANO BẠC PK500: SÁT KHUẨN KHÔNG ĐỐI THỦ

CHUYÊN CUNG CẤP DUNG DỊCH NANO BẠC VÀ TƯ VẤN, HỢP TÁC, CHUYỂN GIAO CÁC SẢN PHẨM VỀ NANO BẠC

DUNG DỊCH NANO BẠC PK500: SÁT KHUẨN KHÔNG ĐỐI THỦ

CHUYÊN CUNG CẤP DUNG DỊCH NANO BẠC VÀ TƯ VẤN, HỢP TÁC, CHUYỂN GIAO CÁC SẢN PHẨM VỀ NANO BẠC

DUNG DỊCH NANO BẠC PK500: SÁT KHUẨN KHÔNG ĐỐI THỦ

CHUYÊN CUNG CẤP DUNG DỊCH NANO BẠC VÀ TƯ VẤN, HỢP TÁC, CHUYỂN GIAO CÁC SẢN PHẨM VỀ NANO BẠC

DUNG DỊCH NANO BẠC PK500: SÁT KHUẨN KHÔNG ĐỐI THỦ

CHUYÊN CUNG CẤP DUNG DỊCH NANO BẠC VÀ TƯ VẤN, HỢP TÁC, CHUYỂN GIAO CÁC SẢN PHẨM VỀ NANO BẠC

DUNG DỊCH NANO BẠC PK500: SÁT KHUẨN KHÔNG ĐỐI THỦ

CHUYÊN CUNG CẤP DUNG DỊCH NANO BẠC VÀ TƯ VẤN, HỢP TÁC, CHUYỂN GIAO CÁC SẢN PHẨM VỀ NANO BẠC

DUNG DỊCH NANO BẠC PK500: SÁT KHUẨN KHÔNG ĐỐI THỦ

CHUYÊN CUNG CẤP DUNG DỊCH NANO BẠC VÀ TƯ VẤN, HỢP TÁC, CHUYỂN GIAO CÁC SẢN PHẨM VỀ NANO BẠC

KHÁI NIỆM VỀ CÔNG NGHỆ NANO VÀ VẬT LIỆU NANO

 

Từ năm 1959, ý tưởng cơ bản về công nghệ nano đã được nhà vật lý học người Mỹ Richard Feynman đưa ra khi nói tới việc con người có khả năng chế tạo ra các vật liệu có kích thước siêu nhỏ cỡ nguyên tử, phân tử.

Đến năm 1974, thuật ngữ “Công nghệ nano” lần đầu tiên được đưa ra bởi nhà khoa học người Nhật Bản Nario Taniguchi, thông qua việc đề cập đến khả năng chế tạo cấu trúc vi hình của mạch vi điện tử.

Nhưng khó có thể nói thời điểm bắt đầu của công nghệ nano có từ khi nào, bởi vì, chiếc cốc Lycurgus được chế tác trong thời La Mã cổ đại cách đây khoảng 1700 năm đã có hiệu ứng đổi màu khi chiếu ánh sáng, do khi chế tạo, thợ thủ công đã dát những phân tử vàng và bạc nhỏ xíu vào thủy tinh. Các nhà nghiên cứu Anh đã kiểm định những mảnh cốc này bằng kính hiển vi và họ thấy đường kính của mỗi phân tử kim loại nhỏ khoảng 50-100nm.

Ở thời kỳ Trung Cổ, các cửa sổ kính màu trong các nhà thờ có chứa các hạt nano vàng, bạc với nhiều kích thước khác nhau, nên tạo ra các hiệu ứng màu khác nhau từ cam, tím, đỏ đến xanh lục. Thêm nữa, Albert Einstein trong luận án tiến sĩ của mình đã đề cập đến tính toán kích thước của một phân tử đường cỡ 1nm. Xem xét một cách cơ bản, những thợ làm kính, thợ thủ công và Einstein đều là những nhà khoa học nano.

Từ những năm 1980, hàng loạt các thiết bị phân tích cấu trúc có khả năng phân tích đến kích thước nguyên và phân tử như kính hiển vi đầu dò quét SPM hay STM đã giúp quan sát và hiểu rõ hơn về lĩnh vực nano.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đã bắt đầu từ những năm gần đây, tập trung chủ yếu vào sản xuất thông minh dựa trên các thành tựu đột phá trong công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ nano. Thế kỷ 21 cũng được cho là thế kỷ của vật liệu nano.

Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có được một định nghĩa thống nhất nào về công nghệ nano và vật liệu nano. Theo Cơ quan Hàng không vũ trụ Hoa Kỳ - NASA thì “Công nghệ nano là công nghệ với hệ thống thiết bị có chức năng chế tạo ra các vật liệu mà cấu trúc có kích thước khoảng từ 1 đến 100nm và ứng dụng các đặc tính độc đáo của những sản phẩm này”. Website nano.gov của Mỹ thì đưa ra định nghĩa “Công nghệ nano là công nghệ xử lý thông tin và kiểm soát vật chất ở các chiều xấp xỉ từ 1 đến 100nm, nơi mà những hiện tượng khác thường xảy ra có khả năng cho phép những ứng dụng mới lạ” hoặc “Công nghệ nano là ngành công nghệ liên quan đến việc chế tạo thiết kế, phân tích cấu trúc và ứng dụng các cấu trúc, thiết bị, hệ thống bằng việc điều khiển hình dáng, kích thước trên cấp độ nanomet”.

Vậy, vật liệu nano là vật liệu trong đó ít nhất một chiều có kích thước nanomet. Vì vật chất tồn tại ở ba trạng thái rắn, lỏng và khí nên vật liệu nano cũng được xem xét ở các dạng rắn, lỏng, khí. Xét về hình dạng, người ta phân vật liệu thành ba loại sau:

-      Vật liệu nano ba chiều đều có kích thước nano, không có chiều tự do nào cho điện tử, ví dụ: đám nano, hạt nano thuộc loại vật liệu nano không chiều.

-      Vật liệu nano hai chiều có kích thước nano, điện tử được tự do trên một chiều còn lại, ví dụ: dây nano, ống nano thuộc loại vật liệu nano một chiều.

-      Vật liệu nano một chiều là vật liệu trong đó chỉ có một chiều có kích thước nano, hai chiều tự do, ví dụ: màng mỏng thuộc loại vật liệu nano hai chiều.

Ngoài ra còn có vật liệu có cấu trúc nano không chiều, một chiều, hai chiều đan xen lẫn nhau hay chỉ có một phần của vật liệu có kích thước nano như nanocomposite. Người ta cũng phân loại theo pha như: đơn pha rắn, đa pha rắn và hệ đa pha hỗn hợp.

Cơ sở khoa học nghiên cứu công nghệ và vật liệu nano là sự chuyển tiếp từ tính chất cổ điển đến tính chất lượng tử, khi kích thước vật liệu ở trạng thái nano với các hiệu ứng đặc trưng:

-      Các hiệu ứng lượng tử của vật liệu vĩ mô gồm rất nhiều nguyên tử (1 hạt có thể tích 1µm3 có khoảng 1010-1012 nguyên tử) nên các hiệu ứng lượng tử không đáng kể nên có thể bỏ qua các thăng giáng ngẫu nhiên. Nhưng cấu trúc nano có ít nguyên tử hơn các tính chất lượng tử thể hiện rõ ràng hơn. Ví dụ một chấm lượng tử có thể được coi như một đại nguyên tử, nó có các mức năng lượng giống như một nguyên tử.

-      Hiệu ứng bề mặt của vật liệu có kích thước nano tạo nên do số nguyên tử nằm trên bề mặt chiếm tỉ lệ đáng kể so với tổng số nguyên tử. Chính vì vậy các hiệu ứng có liên quan đến bề mặt, gọi tắt là hiệu ứng bề mặt sẽ trở nên quan trọng làm cho tính chất của vật liệu có kích thước nanomet khác biệt so với vật liệu ở dạng khối. Ví dụ số nguyên tử bạc trong một đơn vị thể tích:

Kích thước hạt nano bạc (nm)

Số nguyên tử có trong hạt nano

1

31

5

3.900

20

250.000

Các tính chất vật lý, hóa học của các vật liệu đều liên quan đến kích thước tới hạn. Khi vật liệu có kích thước nhỏ hơn kích thước tới hạn thì tính chất của vật liệu hoàn toàn bị thay đổi. Do vậy các vật liệu nano có các tính chất đặc biệt khác biệt với các tính chất của vật liệu đó. Ví dụ điện trở của một kim loại tuân theo Định luật Ohm ở kích thước vĩ mô nhưng khi giảm kích thước của vật liệu xuống nhỏ hơn quãng đường tự do trung bình của điện tử trong kim loại 1 đến 100nm thì Định luật Ohm không còn đúng nữa.

Điện trở của vật có kích thước nano khi đó sẽ tuân theo các quy tắc lượng tử. Tương tự các tính chất khác như điện, từ, quang và tính chất hóa học, sinh học,… cũng đều có độ dài tới hạn trong khoảng nanomet. Chính vì thế mà người ta gọi ngành khoa học và công nghệ liên quan đến vật liệu nano là khoa học nano và công nghệ nano.



Nỗi lo về “siêu vi khuẩn” đề kháng

  

Nỗi lo về “siêu vi khuẩn” đề kháng

Thời gian mấy năm gần đây, các chuyên gia y tế trên thế giới rất lo lắng về thông tin các loại “siêu vi khuẩn”, thực chất là “vi khuẩn siêu đề kháng”, xuất hiện và lan truyền.



Ảnh minh họa


Mới đây, ngày 20/2/2015, hãng tin Reuters cho biết: một đợt lây nhiễm hết sức nghiêm trọng qua nội soi đã xảy ra ở Trung tâm Y tế Ronald Reagan trực thuộc Trường Đại học Y khoa Los AngelesCalifornia (UCLA). Vi khuẩn gây sự lây nhiễm được xác định là CRE (Carbapenem Resistant Enterobacteriaceae) và phương tiện gây lây nhiễm chết người này là các máy nội soi tá tràng được dùng trong thủ thuật can thiệp đường mật - tụy (ERCP). Trong số 179 bệnh nhân được nội soi trong thời gian từ 3/10/2014 đến 28/1/2015 đã được báo cáo là có nguy cơ bị lây nhiễm CRE, có 7 ca phát bệnh phải được điều trị và hai trong số này đã tử vong. CRE được xem là một loại “siêu vi khuẩn” (tạm dịch từ “super bugs” hay “super bacteria”) vì có khả năng đề kháng với kháng sinh (KS) loại mới của nhóm KS carbapenem.

Mấy năm gần đây, các chuyên gia y tế trên thế giới rất lo lắng về thông tin các loại “siêu vi khuẩn” thực chất là “vi khuẩn siêu đề kháng” xuất hiện và lan truyền. Ngày Sức khỏe Thế giới (7/4/2011), WHO đã cảnh báo tình trạng đề kháng kháng sinh đang là mối quan ngại toàn cầu và việc khẩn thiết nâng cao nhận thức về việc xuất hiện các loại vi khuẩn độc hại, thông qua khẩu hiệu: “Chống kháng thuốc, không hành động hôm nay ngày mai không có thuốc chữa”. Khẩu hiệu đã được chọn như thế, bởi vì trước đó đã xảy ra khủng hoảng toàn cầu với sự xuất hiện các loại “super bugs” có khả năng đề kháng nhiều loại KS kể cả các loại dự trữ dùng trong cấp cứu nhiễm khuẩn sau cùng (carbapenem thuộc loại này).

Theo định nghĩa chuyên môn, một loại vi khuẩn đề kháng kháng sinh khi loại vi khuẩn này vẫn có thể sinh trưởng, phát triển được với sự hiện diện của một nồng độ kháng sinh cao hơn gấp nhiều lần nồng độ ngăn chặn sự sinh trưởng, phát triển của các loại vi khuẩn khác hoặc của chính loại vi khuẩn đó trước đây.

Kháng sinh đầu tiên là penicillin được sản xuất đại trà và chính thức được dùng trong điều trị bệnh nhiễm khuẩn vào năm 1945, thì vào năm 1948, người ta phát hiện vi khuẩn Staphylococcus aureus đề kháng với kháng sinh này. Vài năm sau đó, con người chống lại S. aureus đề kháng bằng cách tìm ra kháng sinh mới là nhóm methicillin. Nhưng đến năm 1961, S. aureus lại đề kháng methicillin để được gọi tên MRSA (Methicillin Resistant Staphylococcus aureus). Khi đó, muốn chống lại MRSA phải dùng vancomycin là KS quý hiếm, dự trữ sau cùng. Đến năm 1997, tai họa lại đến là vì MRSA đề kháng được cả vancomycin để nghiễm nhiên mang tên VRSA (Vancomycin Resistant Staphylococcus aureus). Hiện nay, các vi khuẩn đề kháng được gọi là “super bugs” bởi vì không chỉ có VRSA mà gần đây, có thêm vi khuẩn rất nguy hiểm đã đột biến gen mang gen tiết ra enzym New Dehli Metallo beta-lactamase (viết tắt là NDM-1) đề kháng các kháng sinh thuộc nhóm carbapenem (gồm imipenem, meropenem…) rất mạnh, thuộc loại dự trữ sau cùng chỉ dùng khi bị nhiễm khuẩn rất nặng, do carbamenem diệt được nhiều loại vi khuẩn đã mang tính đề kháng các loại kháng sinh khác. “Siêu mầm bệnh” này được nhận diện là CRE đã nêu ở trên, hay Klesiella pneumoniae thường gây bệnh viêm phổi được gọi tắt là CRKP (Carbapenem-resistant Klebsiella pneumoniae). Hiện nay, tên MRSA, VRSA, CRKP, CRE được xem là nỗi kinh hoàng của giới chức y tế. Chỉ riêng MRSA hằng năm gây chết khoảng 20.000 người ở Mỹ.



Carbapenem Resistant Enterobacteriaceae

Người ta ghi nhận chính việc sử dụng kháng sinh bừa bãi, dùng không đúng cách không đủ liều, hay quy trình tiệt trùng các dụng cụ y khoa (như dụng cụ nội soi tá tràng kể ở trên) không tuân thủ triệt để, sẽ làm cho vi khuẩn không bị tiêu diệt hết, một số khả năng thích ứng, đặc biệt có sự đột biến gen trên nhiễm sắc thể kiểm soát sự nhạy cảm đối với kháng sinh, số này tồn tại, phát triển thành “chủng” vi khuẩn mới mà kháng sinh đã sử dụng sẽ không còn tác dụng đối với chủng này nữa.

Rõ ràng đã có viễn cảnh không mấy sáng sủa về hiện tượng vi khuẩn đề kháng. Tuy nhiên, chính chúng ta, những thầy thuốc và người bệnh sử dụng thuốc, có thể góp phần cải thiện tình trạng đề kháng kháng sinh.

Đối với những trường hợp lây nhiễm vi khuẩn đề kháng thông qua các dụng cụ y khoa, nếu tai biến vẫn xảy ra khi các quy trình xử lý dụng cụ đó đã được tuân thủ nghiêm ngặt (như dùng dụng cụ nội soi tá tràng nêu ở trên) thì nhà sản xuất phải xem lại thiết kế và quy trình xử lý để sử dụng sao cho thật an toàn, không có các rủi ro. Còn nhà điều trị sử dụng các dụng cụ đó toàn tâm toàn ý tuân thủ nghiêm ngặt các thủ thuật để bảo đảm thật an toàn cho bệnh nhân.

Đối với người bệnh nên dành quyền chỉ định kháng sinh cho thầy thuốc. Không nên tự ý sử dụng kháng sinh một cách bừa bãi, không đúng lúc, không đủ liều. Khi được bác sĩ ghi đơn chỉ định dùng kháng sinh, nên dùng thuốc đúng liều lượng, đủ thời gian như đã chỉ định, không nên ngưng, bỏ thuốc nửa chừng.

Trên nguyên tắc, nếu vi khuẩn còn nhạy cảm với kháng sinh cổ điển, thông dụng thì sử dụng kháng sinh loại này và tránh dùng kháng sinh loại mới. Những kháng sinh mới thường được khuyến cáo chỉ dùng trong bệnh viện hoặc khi có sự chỉ định cân nhắc của bác sĩ điều trị. Đó là thuốc quý có tính dự trữ, nếu sử dụng bừa bãi chắc chắn trong thời gian ngắn sẽ bị lờn.

Nguồn xaluan.com

Nỗi lo về “siêu vi khuẩn” đề kháng

 

Nỗi lo về “siêu vi khuẩn” đề kháng

Thời gian mấy năm gần đây, các chuyên gia y tế trên thế giới rất lo lắng về thông tin các loại “siêu vi khuẩn”, thực chất là “vi khuẩn siêu đề kháng”, xuất hiện và lan truyền.



Ảnh minh họa


Mới đây, ngày 20/2/2015, hãng tin Reuters cho biết: một đợt lây nhiễm hết sức nghiêm trọng qua nội soi đã xảy ra ở Trung tâm Y tế Ronald Reagan trực thuộc Trường Đại học Y khoa Los Angeles, California (UCLA). Vi khuẩn gây sự lây nhiễm được xác định là CRE (Carbapenem Resistant Enterobacteriaceae) và phương tiện gây lây nhiễm chết người này là các máy nội soi tá tràng được dùng trong thủ thuật can thiệp đường mật - tụy (ERCP). Trong số 179 bệnh nhân được nội soi trong thời gian từ 3/10/2014 đến 28/1/2015 đã được báo cáo là có nguy cơ bị lây nhiễm CRE, có 7 ca phát bệnh phải được điều trị và hai trong số này đã tử vong. CRE được xem là một loại “siêu vi khuẩn” (tạm dịch từ “super bugs” hay “super bacteria”) vì có khả năng đề kháng với kháng sinh (KS) loại mới của nhóm KS carbapenem.

Mấy năm gần đây, các chuyên gia y tế trên thế giới rất lo lắng về thông tin các loại “siêu vi khuẩn” thực chất là “vi khuẩn siêu đề kháng” xuất hiện và lan truyền. Ngày Sức khỏe Thế giới (7/4/2011), WHO đã cảnh báo tình trạng đề kháng kháng sinh đang là mối quan ngại toàn cầu và việc khẩn thiết nâng cao nhận thức về việc xuất hiện các loại vi khuẩn độc hại, thông qua khẩu hiệu: “Chống kháng thuốc, không hành động hôm nay ngày mai không có thuốc chữa”. Khẩu hiệu đã được chọn như thế, bởi vì trước đó đã xảy ra khủng hoảng toàn cầu với sự xuất hiện các loại “super bugs” có khả năng đề kháng nhiều loại KS kể cả các loại dự trữ dùng trong cấp cứu nhiễm khuẩn sau cùng (carbapenem thuộc loại này).

Theo định nghĩa chuyên môn, một loại vi khuẩn đề kháng kháng sinh khi loại vi khuẩn này vẫn có thể sinh trưởng, phát triển được với sự hiện diện của một nồng độ kháng sinh cao hơn gấp nhiều lần nồng độ ngăn chặn sự sinh trưởng, phát triển của các loại vi khuẩn khác hoặc của chính loại vi khuẩn đó trước đây.

Kháng sinh đầu tiên là penicillin được sản xuất đại trà và chính thức được dùng trong điều trị bệnh nhiễm khuẩn vào năm 1945, thì vào năm 1948, người ta phát hiện vi khuẩn Staphylococcus aureus đề kháng với kháng sinh này. Vài năm sau đó, con người chống lại S. aureus đề kháng bằng cách tìm ra kháng sinh mới là nhóm methicillin. Nhưng đến năm 1961, S. aureus lại đề kháng methicillin để được gọi tên MRSA (Methicillin Resistant Staphylococcus aureus). Khi đó, muốn chống lại MRSA phải dùng vancomycin là KS quý hiếm, dự trữ sau cùng. Đến năm 1997, tai họa lại đến là vì MRSA đề kháng được cả vancomycin để nghiễm nhiên mang tên VRSA (Vancomycin Resistant Staphylococcus aureus). Hiện nay, các vi khuẩn đề kháng được gọi là “super bugs” bởi vì không chỉ có VRSA mà gần đây, có thêm vi khuẩn rất nguy hiểm đã đột biến gen mang gen tiết ra enzym New Dehli Metallo beta-lactamase (viết tắt là NDM-1) đề kháng các kháng sinh thuộc nhóm carbapenem (gồm imipenem, meropenem…) rất mạnh, thuộc loại dự trữ sau cùng chỉ dùng khi bị nhiễm khuẩn rất nặng, do carbamenem diệt được nhiều loại vi khuẩn đã mang tính đề kháng các loại kháng sinh khác. “Siêu mầm bệnh” này được nhận diện là CRE đã nêu ở trên, hay Klesiella pneumoniae thường gây bệnh viêm phổi được gọi tắt là CRKP (Carbapenem-resistant Klebsiella pneumoniae). Hiện nay, tên MRSA, VRSA, CRKP, CRE được xem là nỗi kinh hoàng của giới chức y tế. Chỉ riêng MRSA hằng năm gây chết khoảng 20.000 người ở Mỹ.



Carbapenem Resistant Enterobacteriaceae

Người ta ghi nhận chính việc sử dụng kháng sinh bừa bãi, dùng không đúng cách không đủ liều, hay quy trình tiệt trùng các dụng cụ y khoa (như dụng cụ nội soi tá tràng kể ở trên) không tuân thủ triệt để, sẽ làm cho vi khuẩn không bị tiêu diệt hết, một số khả năng thích ứng, đặc biệt có sự đột biến gen trên nhiễm sắc thể kiểm soát sự nhạy cảm đối với kháng sinh, số này tồn tại, phát triển thành “chủng” vi khuẩn mới mà kháng sinh đã sử dụng sẽ không còn tác dụng đối với chủng này nữa.

Rõ ràng đã có viễn cảnh không mấy sáng sủa về hiện tượng vi khuẩn đề kháng. Tuy nhiên, chính chúng ta, những thầy thuốc và người bệnh sử dụng thuốc, có thể góp phần cải thiện tình trạng đề kháng kháng sinh.

Đối với những trường hợp lây nhiễm vi khuẩn đề kháng thông qua các dụng cụ y khoa, nếu tai biến vẫn xảy ra khi các quy trình xử lý dụng cụ đó đã được tuân thủ nghiêm ngặt (như dùng dụng cụ nội soi tá tràng nêu ở trên) thì nhà sản xuất phải xem lại thiết kế và quy trình xử lý để sử dụng sao cho thật an toàn, không có các rủi ro. Còn nhà điều trị sử dụng các dụng cụ đó toàn tâm toàn ý tuân thủ nghiêm ngặt các thủ thuật để bảo đảm thật an toàn cho bệnh nhân.

Đối với người bệnh nên dành quyền chỉ định kháng sinh cho thầy thuốc. Không nên tự ý sử dụng kháng sinh một cách bừa bãi, không đúng lúc, không đủ liều. Khi được bác sĩ ghi đơn chỉ định dùng kháng sinh, nên dùng thuốc đúng liều lượng, đủ thời gian như đã chỉ định, không nên ngưng, bỏ thuốc nửa chừng.

Trên nguyên tắc, nếu vi khuẩn còn nhạy cảm với kháng sinh cổ điển, thông dụng thì sử dụng kháng sinh loại này và tránh dùng kháng sinh loại mới. Những kháng sinh mới thường được khuyến cáo chỉ dùng trong bệnh viện hoặc khi có sự chỉ định cân nhắc của bác sĩ điều trị. Đó là thuốc quý có tính dự trữ, nếu sử dụng bừa bãi chắc chắn trong thời gian ngắn sẽ bị lờn.

Nguồn xaluan.com

Nano bạc PK500 ứng dụng phun, xịt khử trùng, làm sạch khuẩn TRƯỜNG HỌC


Dung dịch Nano bạc được sử dụng cho mục đích khử trùng, khử mùi. Nó có khả năng diệt các loài vi khuẩn, virut và nấm, nấm mốc, kể cả vi khuẩn kháng thuốc do chúng không có khả năng đề kháng chống lại tác dụng của Nano bạc. 
Nano bạc không gây kích ứng, an toàn và có hiệu quả tác dụng cao, đồng thời có khả năng chữa trị mau lành các vết thương hở, vết bỏng hoặc các vết loét khó lành do bệnh tiểu đường hoặc do nằm bất động lâu ngày tạo ra.  
1.     Công dụng của Dung dịch xịt khử trùng Nano bạc:
Bảo vệ cơ thể, môi trường, đồ dùng, vật dụng,… với tác dụng làm sạch khuẩn, virut, nấm, khử mùi phòng ngừa lây nhiễm vi khuẩn, virut, nấm, nấm mốc gây bệnh trong sinh hoạt hàng ngày và khi tiếp xúc với nguồn bệnh từ con người, môi trường, vật dụng và vật nuôi.
2.     Cách sử dụng: Pha loãng đến hàm lượng khuyến cáo. Xịt phủ đều dung dịch bề mặt cần khử trùng và trong môi trường không khí, để khô tự nhiên.
3.     Chỉ định
Dung dịch khử trùng làm sạch khuẩn Nano bạc được chỉ định trong các trường hợp dưới đây:
-    Trong môi trường không khí ở những nơi công cộng
-    Khi tiếp xúc lan can cầu thang, tay nắm cửa, đồ dùng, vật dụng,…
-    Xịt trực tiếp lên cơ thể và vật nuôi
-         Phòng ngừa hữu hiệu các bệnh về tay chân miệng
-         Không gây kích ứng và an toàn cho làn da
An toàn với con người, và đặc biệt an toàn đối với trẻ nhỏ.


Nano bạc PK500 với mục đích xịt khử trùng, làm sạch khuẩn (BUỒNG DIỆT KHUẨN)


Dung dịch Nano bạc được sử dụng cho mục đích khử trùng, khử mùi. Nó có khả năng diệt các loài vi khuẩn, virut và nấm, nấm mốc, kể cả vi khuẩn kháng thuốc do chúng không có khả năng đề kháng chống lại tác dụng của Nano bạc. 
Nano bạc không gây kích ứng, an toàn và có hiệu quả tác dụng cao, đồng thời có khả năng chữa trị mau lành các vết thương hở, vết bỏng hoặc các vết loét khó lành do bệnh tiểu đường hoặc do nằm bất động lâu ngày tạo ra.  
1.     Công dụng của Dung dịch xịt khử trùng Nano bạc:
Bảo vệ cơ thể, môi trường, đồ dùng, vật dụng,… với tác dụng làm sạch khuẩn, virut, nấm, khử mùi phòng ngừa lây nhiễm vi khuẩn, virut, nấm, nấm mốc gây bệnh trong sinh hoạt hàng ngày và khi tiếp xúc với nguồn bệnh từ con người, môi trường, vật dụng và vật nuôi.
2.     Cách sử dụng: Pha loãng đến hàm lượng khuyến cáo. Xịt phủ đều dung dịch lên cơ thể, bề mặt cần khử trùng, để khô tự nhiên.
3.     Chỉ định
Dung dịch khử trùng làm sạch khuẩn Nano bạc được chỉ định trong các trường hợp được dưới đây:
-         Khi giao tiếp, tiếp xúc trực tiếp hay tiếp xúc gần với vùng dịch.
-         Khi tiếp xúc lan can cầu thang, tay nắm cửa, đồ dùng, vật dụng,…và môi trường không khí ở những nơi công cộng.
-         Khi tiếp xúc với vật nuôi, có thể xịt trực tiếp lên cơ thể và vật nuôi
-         Phòng ngừa hữu hiệu các bệnh về tay chân miệng
-         Không gây kích ứng và an toàn cho làn da
An toàn với con người, và đặc biệt an toàn đối với trẻ nhỏ.




Dung dịch Nano bạc PK500 - Ứng dụng trong y tế và đời sống

I.  Đặc tính của sản phẩm 

Dung dịch Nano bạc PK500 được sử dụng làm nguyên liệu cho vào các sản phẩm với mục đích: Hàm lượng Dung dịch Nano bạc PK500 cho vào sản phẩm từ 0,01% đến 100%.

-  Khử trùng, khử mùi, diệt dễ dàng các loài vi khuẩn, vi rút, bào tử, nấm, nấm mốc, kể cả những vi khuẩn kháng thuốc do chúng không có khả năng đề kháng chống lại tác dụng của Nano bạc.


-  Điều trị với hiệu quả cao các vết bỏng, vết thương nhiễm trùng, mụn nhọt trên da, hắc lào, nấm, nước ăn chân, các vết loét khó lành do nằm lâu một chỗ, các vết loét dinh dưỡng do bệnh tiểu đường, rút ngắn thời gian liền sẹo.

II. Thông số kỹ thuật



Tên sản phẩm
Dung dịch nano bạc
Phương pháp thử
Nồng độ
Theo yêu cầu

Cảm quan
Màu vàng nâu đến vàng tùy thuộc
 vào nồng độ của dung dịch
Quan sát bằng mắt thường
Kích thước trung bình
≤ 30nm
Chụp SEM (Scanning 
Electron Microscope) hoặc TEM (Transmission Electron Microscopy)
Hình dạng
Hình cầu
Sai số hàm lượng
± 10% so với hàm lượng ghi trên nhãn
Quang phổ hấp thụ nguyên tử
Thời hạn sử dụng
³ 2 năm
Phát hiện tủa bằng mắt thường


III.  Ứng dụng của sản phẩm
Dung dịch nano bạc PK500 này được sử dụng làm nguyên liệu cho các sản phẩm có tác dụng khử trùng, khử mùi, làm lành nhanh các vết thương hở, như:
1. Ứng dụng trong y tế: Đưa vào chế phẩm dạng dung dịch, gel, cream, bông băng gạc như:
-         Dạng dung dịch: rửa vết thương, sát khuẩn bề mặt, ngâm dụng cụ y tế,...
-         Dạng gel, cream: bôi vết thương hở, vết bỏng, vết loét, vết mổ, các bệnh viêm, loét, nấm, mụn nhọt,...
-         Dạng bông băng gạc: để đắp vết thương, vết loét khó lành, vết bỏng.

2.   Ứng dụng trong đời sống: vào trong mặt hàng tiêu dùng gia dụng như:
-         Xịt khử mùi, khử khuẩn, chống mốc phòng, ô tô, giường, tủ, xịt giầy, xịt mũ bảo hiểm,...
-         Gel rửa tay khô, xà phòng rửa tay sát khuẩn,…
-         Nước lau sàn, nước rửa chén
-         Nước giặt, xả vải 
-         Ngâm rửa đồ chơi
-   ...
3.                                                                                                                                                              Ứng dụng hóa mỹ phẩm: sử dụng làm hoạt chất khử trùng, khử mùi, kháng nấm, diệt khuẩn trong các sản phẩm ở dạng:
-         Dung dịch xịt, rửa, ngâm, dưỡng da, xịt mũi, súc miệng,…
-         Dạng gel, cream bôi trị mụn, trị nấm, hỗ trợ trị sẹo.
-         Dầu gội, xả, đánh răng, sữa tắm, rửa tay, rửa mặt, đắp mặt,...
4.                                                                                                                              Ứng dụng trong ngành công nghiệp dệt và may mặc: tạo ra các loại vải có tính năng tự khử trùng bằng cách cố định các hạt nano bạc vào vải, tất, mũ, khẩu trang,...
5.                                         Ứng dụng trong ngành công nghiệp nhựatạo ra hạt nhựa có tính năng tự khử trùng bằng cách cố định các hạt nano bạc vào trong hạt nhựa.
6.                                                                                                                                                                                     Ứng dụng trong chăn nuôi: Tạo ra các sản phẩm:
-         Dạng dung dịch để làm sạch môi trường, vật dụng trong chăn nuôi, xử lý môi trường chăn nuôi.
  -         Dưới dạng kem bôi, dung dịch chữa lành vết thương cho động vật.
7.                                                                                                                                                                                    Ứng dụng trong nông nghiệp, bảo quản nông sản (dùng trực tiếp sản phẩm)
-         Để diệt các loại vi khuẩn, nấm, virut gây hại cho cây trồng, hoa, trái cây,...
-         Ngâm rau củ quả sau thu hoạch nhằm kéo dài thời gian sử dụng, bảo quản cho rau củ quả.
8.                                                                                                                                                                                                             Khử trùng bể bơi, bể cá, hồ tôm cá,… (dùng trực tiếp sản phẩm)làm chất kháng khuẩn, hạn chế sự phát triển của tảo và nấm.


Nano Bạc PK500 ứng dụng để sản xuất ra sản phẩm sợi, vải, nhựa có tính kháng khuẩn


Sản phẩm Nano bạc dùng tẩm, phối trộn vào vật liệu để cho ra các loại vải, sợi nhân tạo, sợi Micro và các loại vải sợi tổng hợp, nhựa. Loại sản phẩm này đảm bảo tính chất kháng khuẩn lâu dài. Trong những môi trường cần có các loại vải sạch, kháng khuẩn tốt, thì đây là một lựa chọn thích hợp, thân thiện với môi trường so với các loại sản phẩm kháng khuẩn khác như Triclosan hoặc hợp chất chlor.

Bề mặt của sợi, nhựa được tẩm bạc có khả năng chống lại vi sinh, nấm và các loại đa tế bào khác.

Quá trình diệt vi khuẩn của Nano bạc xảy ra trong 3 giai đoạn:
- Giảm thiểu khả năng bám khuẩn trên bề mặt, môi trường phát triển không thuận li cho vi khuẩn.
- Phá hủy sự trao đổi chất của tế bào.
- Phản ứng của ion bạc với các loại amino acid có chứa lưu huỳnh.
Độ ẩm thường của không khí đủ để phân tử bạc phản ứng với các loại vi sinh 
So sánh với các chất kháng khuẩn khác, phân tử bạc không bốc hơi, phân tử bạc không bị nhiễm vào không khí và không gây nhiễm không khí. 
Với các sản phẩm này, chúng ta sẽ có một hệ thống kháng khuẩn toàn diện và lâu dài, so với các hệ thống kháng khuẩn từ chất liệu khác, sản phẩm không thể hiện sự thoái hóa dưới tia UV. Đặc tính của sản phẩm bền lâu như sự tồn tại của sợi. 

Cách hoạt động của Nano bạc
Ion bạc tiết ra từ các hạt Nano bạc và phá hủy DNA cũng như các protein của vi khuẩn, các giống đơn bào, vi trùng, nấm ... Sự phản ứng giữa ion bạc và các amino acid có chứa sulfur cũng như sự thay đổi kalium với bạc làm hư hại tế bào cũng như proteine khiến các loại vi sinh bị hủy diệt.


Ứng dụng
Sợi, nhựa thành phẩm đã cố định nano bạc dùng làm:
- Khăn trải giường
- Bao trùm đệm
- Khăn lau chén
- Khăn mặt, khăn lau, tất
- Quần áo lao động
- Đồ nhựa các loại,…

Nano bạc có chức năng kháng khuẩn, chống hôi được trộn vào hạt nhựa thường, không chứa nano bạc trong quá trình sản xuất, kéo sợi để sản xuất sợi nhân tạo dùng dệt vải, khăn, quần áo,…
Nano bạc không chỉ tẩm, phủ lên bề mặt mà được đưa vào trong sản phẩm qua quy trình nóng chảy. Khách hàng dùng sản phẩm này để sản xuất tấm ga trải giường, khăn lau chén, bát, thảm trải nền nhà, túi bọc tấm đệm giường, quần áo (tạp dề, vớ (tất), t-shirts … ) cũng như các sản phẩm vệ sinh khác như quần áo cho bệnh viện, quần áo bảo vệ, khẩu trang,… Sản phẩm còn dùng cho vào trong các quy trình sản xuất khác dành cho thermo plast, như quy trình phun ép các bộ phận, các bình chứa, chai ... hoặc ống nhựa dẫn chất lỏng, nước,… 

Vì nano bạc ở trạng thái colloid, không phải dạng ion, mà là dng bạc nano nguyên t nên không bị thất thoát trong khi chùi rửa. Trong khi ứng dụng sản phẩm chỉ cần một phần bạc rất nhỏ để kháng khuẩn. Khả năng kháng khuẩn có tác dụng suốt đời sống của sản phẩm.

1. Ứng dụng của Nano bạc vào sản phẩm ở nồng độ rất thấp. Ngay khi chúng ta ăn các sản phẩm có chứa Nano bạc, thì hàm lượng Nano bạc cũng không thể cao hơn định mức WHO đã đưa ra. Hàm lượng Nano bạc tiết ra ngoài dùng diệt khuẩn so ra thấp hơn định mức của WHO ở vào cấp lũy thừa. 

2. Như đã nói, sản phẩm có chứa Nano bạc được đưa vào sản phẩm qua qu
y trình nóng chảy của nhựa, điều khiến sự thất thoát qua sự chà sát (vật lý) không thể xảy ra. Mọi tác động chà sát bào mòn gây thất thoát ở cấp độ lớn hơn cấp Nano.

3. Nano bạc ở dạng colloid có tính chất làm ảnh hưởng đến màu sắc của sản phẩm. Thí dụ sản phẩm trắng trong sẽ trở nên hơi có màu beige hoặc màu như rượu champagne. Đối với các màu vàng, cam, xanh lợt
,… thì không bị ảnh hưởng. Có thể xảy ra hiện tượng màu cơ bản bị biến đổi. Bù lại sản phẩm sẽ không bị vàng ố, tức là không có sự thay đổi màu qua ánh sáng hoặc qua các quy trình giặt giũ,...

4. Lệ thuộc vào diện tích lớn của các sản phẩm sợi, như micro fiber,... chúng ta cần cho mỗi sản phẩm những thông số khác nhau, tuy nhiên hàm lượng Nano bạc sẽ vẫn thấp hơn 0,05 - 0,5 phần ngàn (0/00).
Đối với các thùng chứa, chai, bình, thông số lại hoàn toàn khác hẳn. Nồng độ Nano bạc từ 0,2 - 0,5 phần ngàn (0/00) là chuẩn, tuy nhiên vẫn còn lệ thuộc các yếu tố sản xuất khác.